Hoàng Văn Thơ Xin Chào Các Bạn

Cuộc sống là sự chia sẽ và được chia sẽ!.

Bạn là ai? bạn là giáo sư, là bác sỹ hay là chuyên gia? Dù bạn là ai thì cuộc sống nó cũng sẽ trôi theo dòng chảy của thời gian. Bạn có một kiến thức đồ sộ nhưng bạn không chia sẽ cho tôi, cho mọi người thì thời gian sẽ là dòng chảy cuốn trôi đi lượng kiến thức khổng lồ đó của bạn, tại sao mình không chia sẽ cũng nhau nhỉ? Hãy cùng tôi chia sẽ chút ít kiến thức của mình để làm cuộc sống tốt đẹp hơn. Cám ơn các bạn nhiều.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Hiểu khách hàng theo mục tiêu

Kinh tế suy thoái, sức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ giảm sút, khách hàng ngày càng kỹ tính hơn trong các chọn lựa của mình. Muốn chăm sóc khách hàng tốt, doanh nghiệp cần hiểu khách hàng muốn gì, từ đó mới xây dựng được những chính sách phù hợp với nhu cầu của họ.

Lắng nghe khách hàng không chưa đủ!
Một sản phẩm hoặc dịch vụ không thể làm vừa lòng tất cả mọi khách hàng, nên việc hiểu khách hàng, hiểu sự khác nhau trong nhu cầu của khách hàng đối với đối với sản phẩm là nền tảng cơ bản để doanh nghiệp có thể nghiên cứu, thiết kế và sáng tạo sản phẩm phù hợp. Đây cũng là xuất phát điểm để doanh nghiệp thực hiện các tiến trình phân khúc khách hàng, định vị, định giá sản phẩm, truyền thông, phân phối, bán hàng và hậu mãi.

Lắng nghe khách hàng không chưa đủ!

Để hiểu khách hàng, đa số các doanh nghiệp nghĩ ngay đến việc lắng nghe khách hàng. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Giáo sư Leonard, Đại học Havard, không phải tình huống nào cũng nên lắng nghe khách hàng. Ở những lĩnh vực khách hàng hiểu rõ, lắng nghe là điều tốt. Nhưng ở những lĩnh vực khách hàng không rành, ví dụ lĩnh vực nghiên cứu sản phẩm mới, việc hỏi khách hàng góp ý về giải pháp cho sản phẩm mới thường có hai hạn chế.

Thứ nhất, khách hàng sẽ có xu hướng quá tập trung vào cách thức mà họ đang sử dụng sản phẩm hiện hữu và khó lòng tưởng tượng ra giải pháp mới.

Thứ hai, khi hỏi ý kiến khách hàng, đôi khi khách hàng cũng có nhu cầu mâu thuẫn nhau, mà bản thân họ cũng không biết cách giải quyết.

Cái khéo của doanh nghiệp là khơi gợi cho khách hàng nói ra những nhu cầu dù mâu thuẫn nhưng có thật này. Trên cơ sở đó, bộ phận nghiên cứu của doanh nghiệp sáng tạo ra những sản phẩm mới thỏa mãn hài hòa những mong muốn trái ngược của khách hàng. Chẳng hạn, có nhiều ông bố bà mẹ vừa không muốn cho bé mặc tã ( vì sợ bé bị nóng, ngứa….) vừa cũng không muốn em bé tè ướt giường. Hiểu được điều này, tập đoàn Kimberly-Clark đã sáng tạo ra “quần đáy tã” và đã thành công vang dội.

Hiểu khách hàng theo mục tiêu

“Hiểu khách hàng theo mục tiêu” đưa ra quan điểm khác về cách hiểu khách hàng.
“Hiểu khách hàng theo mục tiêu” đưa ra quan điểm khác về cách hiểu khách hàng. Việc khách hàng chọn mua sản phẩm nhằm hoàn tất một mục tiêu nào đó, và mục tiêu đó cần được đặt trong một hoàn cảnh cụ thể. Trên cơ sở những thông tin này, bộ phận nghiên cứu sản phẩm của doanh nghiệp tiến hành thiết kế lại sản phẩm, hoặc phát triển sản phẩm để giúp khách hàng thực hiện được các mục tiêu của mình trong hoàn cảnh đặc thù đó.

Một hệ thống nhà hàng bán thức ăn nhanh rất muốn tăng doanh số mặt hàng kem sữa. Trước kia, nhà hàng phân nhóm các khách hàng theo các chỉ số nhân khẩu học và tâm lý tiêu dùng. Họ mời khách hàng đến dùng thử các loại kem mới và đề nghị cho ý kiến. Dựa trên các đánh giá này, nhà hàng đưa ra nhiều loại kem mới. Tuy nhiên, sau một thời gian doanhthu vẫn không tiến triển.

Một nhà nghiên cứu thị trường đã dùng phương pháp “hiểu khách hàng theo mục tiêu” để tiếp cận vấn đế. Đầu tiên, người này quan sát hành vi mua kem của khách hàng. Theo đó, khách hàng mua kem vào buổi sáng thường chỉ mua kem sữa, không mua thêm thứ khác. Những người này không uống tại chỗ mà vừa lái xe vừa uống. Qua phỏng vấn phát hiện nhóm khách hàng này đang trên đường đi làm, khá vội, họ không đói, nhưng cần một thứ gì vừa ăn vừa lái xe cho đỡ buồn. Yêu cầu đối với món đó là phải giúp họ không đói cho đến tận trưa. Đối với những lựa chọn khác như bánh ngọt, chuối và đậu phộng, đa số cho là bánh ngọt quá khô, chuối ăn mau hết, đậu phộng thì mau đói, chỉ có kem sữa là phù hợp.

Nhóm khách hàng buổi trưa và chiều đa phần là cha mẹ mua cho con tráng miệng sau bữa ăn. Tuy nhiên, những người này thường ăn xong trước và phải sốt ruột chờ con hút kem sữa.

Dựa trên những thông tin trên, nhà nghiên cứu đề xuất : đối với nhóm khách hàng thứ nhất, các loai kem bán vào buổi sáng cần được pha đặc hơn. Vì đa số khách hàng đều vội, các máy kem cần để trước quầy cho khách tự lấy. Về mặt thanh toán, nhà hàng cần phát hành thẻ trả trước để khách hàng có thể tự trả tiền bằng cách cà thẻ vào máy trước khi lấy kem.

Đối với nhóm khách hàng thứ hai, kem bán buổi chiều cần được pha loãng hơn, để cho các cô cậu nhỏ uống nhanh cho ba mẹ khỏi phải chờ lâu. Các sắp xếp quầy kệ cũng khác buổi sáng. Máy kem cần để bên trong để tránh trường hợp các cô cậu nhỏ nghịch ngợm. Kết quả là không những doanh số kem sữa của nhà hàng tăng vọt, mà các chỉ số hài lòng đối với nhà hàng cũng tăng cao hơn trước kia.

Những lưu ý

Khách hàng được nghiên cứu phải là những người liên quan trực tiếp đến việc sử dụng sản phẩm và cần đa dạng để đại diện cho toàn bộ nhóm khách hàng tiềm năng của công ty.
Nghiên cứu khách hàng theo mục tiêu nhằm giúp doanh nghiệp hiểu rõ mong muốn của khách hàng khi sử dụng sản phẩm, từ đó làm cơ sở để doanh nghiệp cải tiến sản phẩm hoặc thiết kế sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Để việc nghiên cứu khách hàng có hiệu quả, cần lưu ý những điểm quan trọng sau.

Cần chọn đúng mẫu nghiên cứu. Khách hàng được nghiên cứu phải là những người liên quan trực tiếp đến việc sử dụng sản phẩm và cần đa dạng để đại diện cho toàn bộ nhóm khách hàng tiềm năng của công ty. Điều này giúp cho việc nghiên cứu khách hàng ghi nhận được hết tất cả mục đích sử dụng sản phẩm của các nhóm khách hàng khác nhau.

Không phải mục tiêu nào cũng quan trọng như nhau. Kết quả nghiên cứu khách hàng thường cho ra rất nhiều mục tiêu mà khách hàng mong muốn khi mua sản phẩm. Doanh nghiệp cần làm rõ những mục tiêu này gắn liền với hoàn cảnh cụ thể nào. Kế đến doanh nghiệp tiến hành khảo sát khách hàng bằng phương pháp định lượng để xác định được tầm quan trọng của các mục tiêu khác nhau đối với khách hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần xác định mức độ hài lòng của khách hàng đối với việc thực hiện được mục tiêu mong muốn.

Khi cải tiến hoặc phát triển sản phẩm mới, doanh nghiệp sẽ ưu tiên những giải pháp phục vụ các mục tiêu quan trọng nhất. Nếu có hai mục tiêu quan trọng như nhau, cần ưu tiên phát triển giải pháp phục vụ mục tiêu mà chỉ số hài lòng của khách hàng thấp hơn.

Bộ phận máy ảnh kỹ thuật số của tập đoàn Sony đã áp dụng thành công phương pháp hiểu khách hàng theo mục tiêu trong việc cải tiến sản phẩm. Sony đã phát hiện ra một số lượng lớn khách hàng mua máy chụp hình kỷ niệm cho con mình, nhất là lúc con cười nên đã tung ra dòng máy ảnh có chức năng tự động chụp hình khi bé cười bằng cách tích hợp chức năng nhận dạng. Dòng máy ảnh này đã khá thành công trên thị trường.

Tóm lại, phương pháp “hiểu khách hàng theo mục tiêu” giúp doanh nghiệp tìm ra những gì khách hàng thật sự cần và mức độ ưu tiên của từng nhu cầu, từ đó cải tiến, sáng tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Đây chính là nền tảng căn bản để tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời giảm thiểu rủi ro thất bại khi tung ra sản phẩm mới.


Nguồn TBKTSG

Cải tiến kinh doanh: Nghĩ lớn, bắt đầu nhỏ

Cải tiến quy trình kinh doanh luôn đi kèm với những rủi ro thất bại cao. Rất nhiều dự án cải tiến nhận được nhiều lời khen trong quá trình thực hiện, nhưng lại không hề đạt được những mục tiêu đã đề ra.

Việc tạo ra lợi nhuận, chứng minh chúng đến từ đâu và nhận được hỗ trợ tài chính có lẽ là quan trọng nhất đối với sự tồn tại của một chương trình cải tiến.
Brad Power là chuyên gia tư vấn về đổi mới quy trình kinh doanh. Bài viết dưới đây của ông đưa ra một ví dụ điển hình cho những thất bại trong những dự án như vậy và phân tích những nguyên nhân thất bại, cùng bài học được rút ra.

Một phòng ban lớn của công ty đã nhận thấy cần thiết phải thay đổi mô hình kinh doanh để tồn tại và thành công trong thị trường nhiều biến động. Trưởng phòng đã thực hiện những nỗ lực tái cấu trúc quan trọng, thuê một công ty tư vấn hàng đầu và huy động mọi nguồn nhân lực để thực hiện dự án đó. Hai năm sau, công ty trở thành ví dụ điển hình cho bài học về tái cấu trúc, là chủ đề của các bài phát biểu, một case study của trường kinh doanh Harvard, và thường xuất hiện trong các bài báo và sách tham khảo.

Không may là chẳng có câu trả lời tốt đẹp nào. Chắc chắn đã có những bức tranh, những biểu đồ quá trình, video và cả những con người tràn đầy tham vọng. Chỉ có điều là chương trình thí điểm đã không đủ tầm để chứng minh rằng nó sẽ mang lại những khoản lợi nhuận kếch xù, và công ty cũng không có mô hình kinh tế chi tiết để dựa vào đó đánh giá mức độ thành công. Không hề tin tưởng rằng sáng kiến sẽ mang lại kết quả kinh doanh tốt, công ty vội vã từ bỏ và bắt đầu những dự án mới.

Trong các chương trình cải tiến quy trình, khi vướng mắc phải khó khăn, vấn đề tiền bạc LUÔN LUÔN được lôi ra bàn thảo: Làm thế nào để kiếm tiền từ những thay đổi quy trình đó? Cổ đông kỳ vọng nhận được những gì và vào thời điểm nào? Trong trường hợp này, người ta không thể trả lời những câu hỏi đó, rồi mọi nỗ lực tàn lụi, và một đội ngũ quản lý mới đến tiếp quản.

Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ thất bại này? Làm thế nào để bạn không mắc phải sai lầm đó?

1. Nhanh chóng công bố những kết quả cụ thể

Lãnh đạo đã mất kiên nhẫn ngồi chờ kết quả được chứng minh. Giai đoạn thiết kế và phân tích một sự thay đổi quá trình cần phải được thực hiện cặn kẽ. Tuy nhiên, việc qua hai năm trời mà vẫn không có một kết quả cụ thể nào có thể làm nản lòng bất kỳ một lãnh đạo nào. Để dàn xếp tình thế đó, nhóm dự án đã tuyên bố thành công khi mới chỉ có bản thiết kế quy trình và đội ngũ nhân lực. Tất cả mọi người đều tin vào một sự thay đổi quy mô lớn, để rồi sau đó nhận ra việc thực hiện khó khăn biết dường nào. Chưa có bất kỳ giai đoạn thực hiện nào thực sự bắt đầu, nói gì đến thu được lợi ích. Công bố của họ đã bỏ xa thực tế.

Tôi đã từng được đề nghị giúp đỡ một công ty lớn đã dành 2 năm vạch ra các mô hình quy trình quản lý tài chính hiện tại và tương lai. Đội ngũ quản lý đã mất kiên nhẫn chờ đợi kết quả và muốn tôi giúp họ mang lại những thay đổi thực tế. Một người quản lý quy trình nhận thấy công ty có quá nhiều thực thể pháp lý tại mỗi nước, mỗi thực thể lại mất chi phí thuế trung gian tốn kém và đôi khi không cần thiết. Chúng tôi nhanh chóng thực hiện một chương trình cắt giảm số lượng các thực thể, trong khi quá trình cải tiến lâu dài vẫn tiến triển song song.

Theo một người bạn của tôi là chuyên gia tư vấn Chunka Mui đã đề xuất trong một bài viết gần đây trên Forbes, cách hiệu quả nhất để mang lại hiệu quả là phải "nghĩ lớn, bắt đầu nhỏ, thất bại sớm và mở rộng nhanh chóng". Kế hoạch cho dự án có thể tham vọng, tuy nhiên đội ngũ quản lý cần đạt được những kết quả ngắn hạn, cụ thể bằng cách bắt đầu nhỏ và bằng cách chứng minh tính khả thi của dự án (hoặc phủ định nó) Chậm nhất là mỗi 3-6 tháng, đội ngũ quản lý phải đạt được và công bố những kết quả như vậy

2. Thay đổi quy trình phải gắn liền với kết quả tài chính rõ ràng

Khi các lãnh đạo đầu tư lớn, họ kỳ vọng thu lại những khoản tương tự. Công ty mà chúng tôi kể trên đã vui mừng với các kế hoạch dự án đến nỗi quên mất cả việc xây dựng một kế hoạch tài chính rõ ràng. Trưởng ban đã không truyền đạt tầm nhìn của mình cho cấp trên một cách hiệu quả vì vậy mà lãnh đạo, vốn không phải là người ủng hộ nhiệt tình ngay từ đầu, cuối cùng đã quyết định sa thải ông.

Bản đồ chiến lược và Hoshin Kanri là những công cụ thể hiện những cải tiến quy trình thúc đẩy các kết quả tài chính như thế nào. Những người chịu trách nhiệm cải tiến quy trình trong công ty phải luôn sẵn sàng khi giám đốc điều hành hay giám đốc tài chính nói: "Hãy cho tôi thấy tiền".

3. Lôi kéo sự tham gia của bộ phận tài chính

Trong câu chuyện kể trên, bộ phận tài chính có đại diện trong đội ngũ quản lý dự án. Tuy nhiên, đội ngũ quản lý dự án cải tiến quy trình đã không đưa ra được những thước đo hiệu quả tài chính của dự án, cũng như không phân công ai chịu trách nhiệm về vấn đề này.

Như tôi đã có lần lưu ý, việc đánh giá hiệu quả (thường do bộ phận tài chính thực hiện) là một trong bốn quy trình quản lý quan trọng để có được thành công trong chương trình cải tiến. Một cách để lôi kéo sự tham gia của bộ phận tài chính, như cách GE và những công ty áp dụng nguyên lý 6 Sigma áp dụng, là xây dựng một hệ thống theo dõi các lợi ích tài chính của từng dự án cải tiến. Hệ thống này phải được xem xét và xác nhận trên khía cạnh tài chính.

Việc tạo ra lợi nhuận, chứng minh chúng đến từ đâu và nhận được hỗ trợ tài chính có lẽ là quan trọng nhất đối với sự tồn tại của một chương trình cải tiến.


Nguồn VEF

8 quan niệm sai lầm về nhượng quyền thương hiệu

Nhiều “chiêu thức” trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền thương hiệu được các nhà đầu tư truyền miệng làm “bí kíp gối đầu giường”. Tuy nhiên, trong số những bí quyết này có không ít quan niệm sai. Những nhận định sai lầm này sẽ dẫn đến thất bại trong kinh doanh, đặc biệt là với những người mới chập chững tham gia. Sau đây là những sai lầm phổ biến:

1. Nên mua franchise của những thương hiệu đã nổi tiếng

Nhiều “chiêu thức” trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền thương hiệu được các nhà đầu tư truyền miệng làm “bí kíp gối đầu giường”.
Thương hiệu nổi tiếng sẽ thu hút khách hàng nhưng đó chưa phải là tất cả. Có nhiều yếu tố khác ngoài sức mạnh thương hiệu quyết định sự thành bại của việc kinh doanh. Thương hiệu rất quan trọng nhưng yếu tố đầu tiên bạn cần nghĩ đến là sự phù hợp. Bạn nên ưu tiên chọn một thương hiệu đáp ứng khả năng đầu tư, nhu cầu thị trường…thay vì một thương hiệu nổi tiếng mà không hợp với tình hình và khả năng thực tế của bạn.

2. Nên mua những franchise đang “hot”

Các nhà đầu tư thường đổ xô mua những thương hiệu mới nổi và đang được quan tâm. Điều này cũng không hẳn là sai, nhưng phải cẩn thận. Một thương hiệu mới nổi hôm nay có thể sẽ chìm vào quên lãng ngay ngày mai. Mặt khác, việc đánh giá thương hiệu nào đang “hot” cũng không hề đơn giản vì nó phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của từng người. Các nhà đầu tư nên kiên nhẫn tìm hiểu thông tin và tập trung tìm kiếm các thương hiệu đáp ứng được khả năng tài chính, năng lực kinh doanh và nhu cầu thị trường.

3. Nên đầu tư vào franchise trong lĩnh vực thực phẩm

Nhiều người muốn mua franchise ngành thực phẩm này với ý nghĩ “Ai mà chẳng phải ăn”. Tuy nhiên, trở ngại của việc mua franchise ngành này là có quá nhiều đối thủ cạnh tranh. Chi phí và giá cả cũng đã được thị trường ấn định nên bạn không thể dễ dàng kiếm lợi. Bạn nên so sánh cẩn thận các các lĩnh vực kinh doanh khác nhau trước khi quyết định mua.

4. Kinh doanh theo hình franchise sẽ đỡ phải lo hơn

Điều này hoàn toàn không đúng. Một khi quyết định bước vào con đường kinh doanh, bạn phải tập trung làm việc hết sức để mọi việc có thể hoạt động suôn sẻ. Bạn đã ở vào một vị trí đòi hỏi nhiều trách nhiệm hơn vì sự thành công của chính mình, vì thương hiệu mà bạn đại diện. Công ty mẹ không phải lúc nào cũng ở bên bạn và lo lắng hết mọi việc.

5. Kinh doanh theo hình thức franchise tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc

Điều này không phải lúc nào cũng đúng. Trên thế giới hiện có hơn 3.000 công ty nhượng quyền thương hiệu trong 75 lĩnh vực khác nhau, và thường thì nhà đầu tư chỉ cần chi khoảng 100.000 đô la là có thể có được một cơ sở kinh doanh hoàn chỉnh. Ngoài ra, nhiều ngành cũng chỉ hoạt động trong giờ hành chính. Tùy vào đặc thù ngành nghề kinh doanh mà chi phí mua franchise và thời gian hoạt động sẽ khác nhau.

6. Kinh doanh theo hình thức franchise dễ thành công

Không có cơ sở nào để đảm bảo mua franchise thì sẽ kinh doanh thành công. Các nhà đầu tư vẫn có thể thất bại như thường cho dù các công ty bán franchise có công bố tỉ lệ thành công cao đến thế nào đi nữa. Các công ty bán franchise chỉ có thể đảm bảo cho bạn có thể tham gia kinh doanh một cách chuyên nghiệp và bài bản hơn.

7. Nếu tôi kinh doanh franchise mà ở khu vực tôi sống chưa có sản phẩm, dịch vụ đó thì tôi chắc chắn sẽ thành công

Với những doanh nhân thiếu kinh nghiệm, đây có vẻ là điều kiện lý tưởng để khởi nghiệp. Tuy nhiên, bạn phải tìm hiểu tại sao không ai kinh doanh mặt hàng đó trong khu vực của mình. Có thể là do khách hàng không có nhu cầu, cũng có thể là chi phí hoạt động quá cao so với lợi nhuận… Có rất nhiều lý do mà bạn phải suy xét cẩn thận trước khi quyết định kinh doanh. Mặt khác, đây cũng là cơ hội vàng để thành công vì biết đâu khách hàng thực sự yêu thích sản phẩm, dịch vụ của bạn. Đây là yếu tố “được ăn cả, ngã về không” nên bạn không nên lấy đó làm cơ sở để quyết định mua franchise.

8. Nên mua franchise phù hợp với sở thích

Làm điều mình thích không có gì sai cả, đặc biệt là khi bạn có cơ hội để biến ước mơ thành sự thật. Tuy nhiên, bạn phải suy xét cẩn trọng vì mù quáng đi theo “tiếng gọi trái tim” dễ dẫn bạn đến thất bại trong kinh doanh. Bạn nên sáng suốt cân đối sở thích và hình thức kinh doanh phù hợp. Một khi làm được điều này, sở thích cá nhân sẽ là một trong những động lực giúp bạn kinh doanh thành công.


Nguồn ALLBUSINESS

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Tiếp tục đề xuất hạ lãi suất tiền gửi USD

Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) vừa có văn bản gửi NHNN đề xuất việc hạ lãi suất tiền gửi USD của các tổ chức kinh tế từ mức 1%/năm xuống 0%/năm và khống chế lãi suất tiền gửi USD của khu vực dân cư từ mức 3%/năm xuống 1%/năm.

Lãi suất huy động USD hiện dao động từ 1 - 3%/năm
Theo đánh giá từ VAFI, chỉ trong thời gian ngắn với chính sách khống chế lãi suất tiền gửi USD trong khu vực dân cư ở mức không quá 3%/năm và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ thêm 2% đã làm cho tỷ giá thực tế VND/USD giảm hơn 5%, nguồn cung ngoại tệ dồi dào và ở trạng thái cung lớn hơn cầu, đồng thời đang diễn ra việc chuyển dịch từ nắm giữ USD sang VND để gửi tiết kiệm có lợi thế hơn.

“Đây là thành công bước đầu, có hiệu quả rất nhanh và tích cực ngoài dự đoán của đa phần các nhà quản lý, chuyên gia kinh tế tiền tệ. Thành công này khiến chúng ta có thể nghĩ rằng việc xóa bỏ tình trạng đô la hóa đang tồn tại lâu trong nền kinh tế là việc không khó và có thể kết thúc nhanh trong khoảng thời gian ngắn”, VAFI nhấn mạnh.

Từ thực tiễn này, VAFI thấy rằng Ngân hàng nhà nước nên có những hành động tiếp theo. Thứ nhất, hạ lãi suất tiền gửi USD của các tổ chức kinh tế từ mức 1%/năm xuống mức 0%/năm. Biện pháp này cần làm ngay vì không có tác động tiêu cực gì đến chính sách tiền tệ, ngược lại sẽ có thêm nhiều lợi ích cho nền kinh tế và hệ thống doanh nghiệp, làm tiền đề cho việc hạ lãi suất cho vay.

Để chuẩn bị cho bước tiếp theo, ngay từ thời điểm này, theo VAFI, Ngân hàng Nhà nước nên chỉ đạo việc nghiên cứu ban hành Phí tiền gửi ngoại tệ ở mức cao cho những đối tượng: cố tình găm giữ ngoại tệ, không có hoặc chưa có nhu cầu sử dụng ngoại tệ trong thời gian trước mắt.

Thứ hai, khống chế và hạ lãi suất tiền gửi USD của khu vực dân cư từ mức 3%/năm xuống mức 1%/năm, cũng như tính toán tăng thêm tỷ lệ dự trữ ngoại tệ ở mức hợp lý để các ngân hàng thương mại không vượt rào khi cạnh tranh thu hút tiền gửi USD. Bước tiếp theo sẽ hạ xuống còn 0%/năm - vì với đa phần người gửi USD thì mức lãi suất 1% hay 0% không có nhiều khác biệt về lợi ích - và thu phí tiền gửi ngoại tệ.

Hiện nay có quan điểm cho rằng nếu tiếp tục hạ lãi suất tiền gửi USD ở mức như trên thì lượng kiều hối sẽ giảm sút, nhận định này theo VAFI là “không có cơ sở vì chi phí cho việc chuyển ngoại tệ bất hợp pháp từ Việt Nam ra nước ngoài khoảng 2%, với mức phí này cộng thêm với rủi ro là có thể mất toàn bộ vốn thì có lẽ không ai làm việc nguy hiểm này”.

Do đó, với việc đưa ra những đề xuất trên, VAFI cho rằng thời điểm hiện tại rất thuận lợi để Ngân hàng Nhà nước hành động nhằm nhanh chóng rút ngắn tiến trình xóa bỏ tình trạng đô la hoá và để thực hiện mục tiêu mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là sẽ chấm dứt tình trạng huy động vốn và cho vay bằng ngoại tệ.


Nguồn DÂN TRÍ

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Nghị định quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức

Theo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức vừa được Chính phủ ban hành, công chức tự ý nghỉ việc từ 7 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo văn bản 3 lần liên tiếp thì sẽ bị buộc thôi việc.

Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ sẽ bị cách chức
Nguyên tắc xử lý kỷ luật là mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật. Nếu công chức có nhiều hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng hình thức thôi việc.

Bị khiển trách nếu gây khó khăn, phiền hà trong thi hành công vụ

Công chức phải chịu hình thức kỷ luật khiển trách khi có một trong các hành vi vi phạm pháp luật như có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan tổ chức, đơn vị cá nhân trong thi hành công vụ; gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tự ý nghỉ việc, tổng số từ 3 đến dưới 5 ngày làm việc trong một tháng;...

Đối với công chức có một trong các hành vi: Cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện; sử dụng thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức để vụ lợi; tự ý nghỉ việc, tổng số từ 5 đến dưới 7 ngày làm việc trong một tháng;...sẽ phải chịu hình thức kỷ luật cảnh cáo.

Nghị định quy định rõ, hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau: Không thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao mà không có lý do chính đáng, gây ảnh hưởng đến công việc chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị; lợi dụng vị trí công tác, cố ý làm trái pháp luật với mục đích vụ lợi; vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;...

Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ sẽ bị cách chức

Công chức giữ vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật như không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả nghiêm trọng; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong phạm vi phụ trách mà không có biện pháp ngăn chặn; vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng;... thì chịu hình thức kỷ luật giáng chức.

Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật: Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ; không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả rất nghiêm trọng; bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ;...

Thời hạn xử lý kỷ luật tối đa là 2 tháng, kể từ ngày phát hiện công chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến ngày cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 5/7/2011


Nguồn Web Chính phủ

Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011

Những lý do khiến tiếp thị bằng TTXH thất bại

Truyền thông xã hội (TTXH - social media) đang trở thành một công cụ thời thượng của ngành tiếp thị. Nhiều công ty hàng đầu đã và đang đổ tiền vào các chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên các trang như Facebook, Twitter hay YouTube. Tuy nhiên , tác động thật sự của truyền thông xã hội đến thương hiệu, doanh số và dịch vụ khách hàng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.

Truyền thông xã hội (TTXH - social media) đang trở thành một công cụ thời thượng của ngành tiếp thị.
Jonathan Salem Baskin - Chuyên gia thương hiệu đã từng làm việc cho Apple, Blockbuster và Limited Inc. đưa ra một số ví dụ: Old Spice đăng tải nhiều video trên Youtube nhưng chính quảng cáo và tiếp thị truyền thống mới thu hút người tiêu dùng mua hàng. Burger King và Pepsi là những thương hiệu tiên phong trong việc sử dụng TTXH để tiếp thị nhưng doanh số bán hàng vẫn giảm.

Tuy nhiên, phải nói ngay rằng TTXH không phải là nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm doanh số của các thương hiệu nói trên. Vấn đề nằm ở chỗ, các công ty này đã không xác định được mục tiêu rõ ràng của các chiến dịch TTXH và sử dụng không hiệu quả các công cụ này. Mặc khác, theo Baskin, các nhà tiếp thị nhận thức về TTXH dựa trên các quan điểm tiếp thị quá cũ.

Cách làm hiện nay của các chiến dịch TTXH là cố gắng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu thụ thông qua các nội dung quảng cáo gián tiếp đăng tải trên các mạng xã hội dưới hình thức blog, ảnh,video… Việc này chẳng khác nào việc phát những đoạn phim quảng cáo có nội dung không đề cập trực tiếp tới sản phẩm, chỉ khác là nó được chuyển tải tới khách hàng qua mạng internet.

Sau đây những nhận định sai lầm khiến việc tiếp thị bằng TTXH đi chệch hướng.

1. “Thương hiệu” tồn tại như một thực thể

Các nhà tiếp thị đã quen với suy nghĩ “Thương hiệu tồn tại như một thực thể”. Trên thực tế, “thương hiệu” chỉ là một khái niệm trừu tượng mà thôi. Bản thân thương hiệu không có giọng nói, danh tiếng, thuộc tính riêng hay hành động. Khi các nhà quảng cáo đánh giá mức độ nhận biết của một thương hiệu nào đó, họ chỉ ghi lại nhận định của khách hàng về thương hiệu trong một khoảng thời gian cố định. Vì vậy, ý định tạo ra các cuộc đối thoại giữa “thương hiệu” và ”người tiêu dùng” là không có cơ sở. Khách hàng nói về thương hiệu chứ không nói với thương hiệu. Thay đổi nhận thức của bạn về thương hiệu là bước đi quan trọng đầu tiên giúp bạn sử dụng hiệu quả hơn, xác định được mục đích khi sử dụng các kênh truyền thông này. Bạn cần tạo điều kiện cho khách hàng nói về thương hiệu của bạn.

2. TTXH đem tới cơ hội đối thoại với khách hàng

Các nhà tiếp thị thuyết phục bạn: Mạng xã hội không giống các phương tiện truyền thống, nó sẽ giúp bạn tiếp cận trực tiếp, nhanh hơn và gần hơn với khách hàng. Thế là họ tích cực tận dụng mọi phương tiện truyền thông để giúp bạn giao tiếp với khách hàng. Tuy nhiên, cuộc đối thoại nào cũng có giá của nó và bạn phải mất rất nhiều tiền bạc và thời gian để làm được điều đó. Đối thoại cũng không phải là việc mới mẻ và không phải đợi đến khi mạng xã hội ra đời thì nhà kinh doanh mới có cơ hội đối thoại với khách hàng. Bạn nên hạn chế giao tiếp với khách hàng nếu các cuộc nói chuyện này không hướng đến một mục tiêu hay đem tới những giá trị cụ thể.

3. TTXH giúp thương hiệu có thêm bạn *(friend trong friendlist), cũng có nghĩa là thêm khách hàng

Bạn có một danh sách bạn bè (friendlist) hoặc người hâm mộ (fan) dài dằng dặc không có nghĩa tất cả họ đều là khách hàng của bạn. Một cú click chuột không nói lên điều gì đáng kể. Các trang mạng xã hội cung cấp cho bạn chức năng “ Thêm bạn” hoặc “Thích” không có nghĩa là bạn và khách hàng có một mối quan hệ bạn bè thực sự.”Bạn bè“ hiểu đúng nghĩa của nó cần nhiều yếu tố hơn thế. Ngoài tình cảm, tình bạn còn đòi hỏi những hành động quan tâm lẫn nhau trên thực tế. Việc chuyển đổi danh sách bạn bè thành danh sách khách hàng không đơn giản. Và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, không thể được duy trì bằng các trò giải trí online. Điều quan trọng không phải là thu hút được nhiều người nhấn nút “Thích” (Like). Bạn phải tận dụng mọi cơ hội tương tác với khách hàng để giao tiếp hiệu quả và thuyết phục được họ sử dụng dịch vụ, sản phẩm. Chất lượng quan trọng hơn số lượng.

4. Mục tiêu của các chiến dịch TTXH không phải là bán hàng

Các nhà tiếp thị vẫn sử dụng nhận định này để giải thích cho mục tiêu của các chiến dịch TTXH. Họ tổ chức các chiến dịch TTXH không nhằm mục đích bán hàng mà củng cố mức độ nhận biết thương hiệu. Nhưng sự thật là:

1) Người tiêu dùng vẫn không tin tưởng thương hiệu
2) Các doanh nghiệp tiếp tục làm mọi cách để nâng cao giá trị thương hiệu
3) Người tiêu dùng hiện nay là ít trung thành hơn bao giờ hết

Doanh nghiệp đưa thông tin cho thị trường theo nhiều cách khác nhau và ai cũng hiểu lý do tại sao họ làm vậy. Doanh nghiệp tồn tại là để bán hàng- đó là một thực tế không thể phủ nhận. Người tiêu dùng nhận thức được thực tế này nên khi bạn cố gắng nói tránh đi thì chỉ càng làm người tiêu dùng tăng thêm sự nghi ngờ (Dù họ rất thích thú và sẵn sàng tham gia các hoạt động miễn phí online (thường chẳng có giá trị gì).

Như vậy, mục tiêu của các chiến dịch TTXH phải là bán hàng.

Doanh nghiệp và các nhà tiếp thị - quảng cáo cần truyền đi thông điệp này một cách rõ ràng. Tăng doanh số phải là yếu tố hàng đầu đánh giá sự thành công của một chiến dịch TTXH.


Nguồn IMEDIACONNECTION

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

“Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng” - trong cạnh tranh, nhiều DN nhỏ cũng như lớn đã quên binh pháp này của Tôn Tử nên hoặc thất bại sớm hoặc

Nhỏ biết né

Ngày nay, xu hướng “làm thuê” đã không còn hấp hẫn những nhân viên năng động. Do đó, việc thành lập công ty riêng đang là khuynh hướng lựa chọn của nhiều người, khi đã tích lũy đủ kiến thức, kỹ năng cũng như tài chính.

Thế nhưng, sau một thời gian, nhiều người đã ngán ngẩm vì không thể cạnh tranh nổi với đối thủ. Đây không phải là chuyện hiếm giữa các DN hoạt động trong cùng lĩnh vực.

Câu chuyện rút lui khỏi thị trường bán lẻ điện thoại di động của Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại Hệ thống Quốc tế (Nettra) trong "cuộc chiến" với hơn 20 hãng điện thoại di động tại Việt Nam cách đây gần 3 năm là một minh chứng.

Mặc dù bản thân Nettra rất có tiềm lực, tài chính và nhiệt huyết, song, do thiếu hệ thống định vị thương hiệu mà Nettra hay nhiều doanh nghiệp (DN) vừa mới ra đời đã phải đóng cửa.

Trong khi đó, Thế giới di động khôn khéo lách vào thị trường với một cửa hàng nhỏ để đối đầu với hệ thống phân phối của FPT. Đến nay, Thế giới di động đã nắm thế chủ động trước các đối thủ khác, kể cả FPT.

Lý do “chết trẻ” của nhiều DN có cùng một nguyên nhân: do ưu tiên chọn cách đối đầu hơn là tìm hướng đi mới. Ông Trần Anh Tuấn, Tổng giám đốc Công ty Tư vấn The pathfinder, cho biết, nhược điểm của các DN nhỏ là cứ chọn các DN lớn mà cạnh tranh.

Điều này, chẳng khác nào “lấy trứng chọi đá”. Ở đây, không loại trừ trường hợp người điều hành DN mới, trước đây từng là nhân viên của DN mà mình đang cạnh tranh. Do đó, không thoát khỏi tư duy rập khuôn từ đơn vị cũ.

Thông thường DN kinh doanh cùng lĩnh vực có ba chiến lược chính: giá rẻ, chất lượng sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng. Với cả ba yếu tố này, DN nhỏ đều bất lợi. Có cách nào để lách qua những cái bóng lớn của đối thủ? Ở đây cần phải thấy, DN lớn có nghĩa là thị phần lớn, doanh số họ lớn nhưng sức mạnh thương hiệu (tình cảm khách hàng) thì chưa chắc lớn.

Như vậy, những đối thủ nhỏ trước hết phải xem xét mặt hàng kinh doanh để có thể “đánh” theo chiến lược thứ nhất. Song song, hai chiến lược còn lại là không thể bỏ qua: Thể hiện được mình (thông qua chất lượng cũng như mẫu mã liên tục) và được xã hội công nhận (tức phải có dịch vụ chăm sóc khách hàng tuyệt vời nhất). Hai yếu tố đó, phải liên tục củng cố.

Lớn tránh hở sườn

Những nhà sáng lập trình duyệt Netscape Navigator từng hy vọng đánh bại Microsoft Windows, nhưng họ quên mất rằng trình duyệt web phải chạy trên hệ điều hành.

Cuối cùng Microsoft đã phát triển Internet Explorer và tấn công vào điểm yếu của Netscape bằng cách cung cấp trình duyệt IE đi kèm với hệ điều hành thay vì bắt khách hàng phải trả thêm phí. Nếu Netscape cũng có một hệ điều hành thì có thể nó đã sống sót sau sự tấn công của Microsoft.

Các doanh nghiệp sở hữu một số điểm ưu việt, và đó là điều quan trọng để tham gia thị trường. Thế nhưng, luôn phải nhớ rằng ưu điểm đến mấy thì theo thời gian nó sẽ dần trở nên lỗi thời. Cũng giống như quân đội phải bảo vệ cánh bên sườn của mình, những điểm yếu của một DN là nơi có khả năng cạnh tranh và dễ bị tấn công và bị tổn thương nhất.

Các DN phải biết cách phòng thủ và phản ứng trước những cuộc tấn công này. Thông qua chiến lược này, các doanh nghiệp nên tập trung vào một phân khúc thị trường hoặc vào một thời điểm nào đó trước khi mở rộng.

Các nhà đầu tư luôn tư vấn cho những người khởi động dự án kinh doanh kiểm tra và xác định chiến lược tại các thị trường nhỏ hoặc các ngành hẹp trước khi nhân rộng. Điều này là cần thiết bởi nó giúp doanh nghiệp giảm sự cạnh tranh ở các điểm yếu và tập trung hiệu quả hơn vào những điểm mạnh.

Ngày nay, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông, khách hàng có nhiều quyền lựa chọn hơn, cộng với xu thế toàn cầu hóa làm cho các cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

DN cần phải xem xét tất cả các mặt mạnh yếu của mình và đảm bảo an toàn cho những điểm yếu. Ứng với lý thuyết của Michael Porter thì 5 áp lực cạnh tranh (sơ đồ) tương ứng với mỗi mạng sườn, ở đó đối thủ có thể tấn công và làm bạn bị tổn thương.

Giá xăng sẽ giảm hay tăng?

Trên thế giới, giá dầu thô đã giảm xuống dưới 100USD/thùng. Đối với xăng dầu thành phẩm tại Singapore, trong khi giá các mặt hàng dầu tăng nhẹ thì giá xăng giảm khá mạnh. Tuy nhiên các DN kinh doanh xăng dầu đầu mối vẫn kêu lỗ, thậm chí DN còn đề nghị tiếp tục tăng giá.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đồng ý và xin ý kiến về việc tăng chi phí kinh doanh xăng dầu. Vậy giá xăng sẽ giảm hay tăng?

Cục diện thị trường

Giá dầu xuống dưới 100 USD/thùng, giá xăng trong nước có giảm theo?
Ngày 13/5, giá dầu thô thế giới lần thứ 2 trong tháng giảm mạnh. Trước đó vào cuối tuần đầu của tháng 5/2011, giá dầu thế giới cũng đã giảm xuống chỉ còn hơn 97USD/thùng và hiện nay cũng chỉ ở mức 98USD/thùng. Như vậy áp lực về giá dầu thô đối với thị trường thế giới đã được loại trừ ít nhất trong thời điểm ngắn hạn vừa qua. Đối với thị trường xăng dầu thành phẩm, theo bảng giá của Petrolimex ngày 11/5 thì tại Singapore, giá xăng A92 giảm còn ở mức hơn 128USD/thùng, trong khi giá các mặt hàng dầu tăng nhẹ.

Tuy nhiên vào cuối tháng 4/2011, các DN kinh doanh xăng dầu đầu mối đã đề xuất tăng giá xăng, sau khi đã tăng giá mạnh mặt hàng này hồi cuối tháng 3/2011. Bên cạnh động thái này, các DN tiếp tục kêu kinh doanh lỗ đối với mặt hàng xăng dầu. Thậm chí đại diện một DN kinh doanh xăng dầu lớn còn khẳng định trước biến động nhanh chóng của giá xăng dầu nhập khẩu, giá trong nước hiện tại chỉ bằng khoảng 70% giá thành thực tế (?).

Nếu nói như vậy thì phải chăng các DN sẽ còn tiếp tục tăng giá xăng dầu? Và phải chăng nếu để tăng đúng thêm 30% giá thành nữa thì giá bán xăng dầu sẽ phải lên tới gần 30.000đ/lít thì các DN kinh doanh xăng dầu đầu mối mới thỏa mãn các điều kiện về giá thành?

Các DN còn cho rằng chi phí kinh doanh xăng dầu hiện cũng rất thấp và lạc hậu. Đồng thuận với đề xuất này của DN, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về khả năng tăng chi phí kinh doanh xăng dầu. Đại diện bộ này cho rằng chi phí kinh doanh xăng dầu hiện ở mức 600 đồng và 400 đồng/lít. Mức này được thực hiện từ đầu năm 2009 và là mức được xây dựng dựa trên căn cứ vào thực tế sản xuất kinh doanh của năm 2008. Vì thế dự thảo do bộ này soạn thảo đề xuất tăng chi phí bán lẻ xăng dầu bình quân từ 600 lên 860 đồng/lít và chi phí bán buôn từ 400 lên 500 đồng/lít - tương ứng với mức tăng lần lượt là 43% và 25%. Có ý kiến cho rằng dường như các DN vẫn ta thán nhằm tạo đà cho việc tăng giá mặt hàng nhạy cảm này.

Không nên tăng và cần minh bạch

Trên thực tế, mặt hàng kinh doanh xăng dầu đang từng bước vận hành theo cơ chế thị trường - có nghĩa là sẽ có sự tăng và giảm tương ứng với biến động giá thị trường thế giới. Vì thế trước việc giá dầu thô cũng như giá xăng thành phẩm đang có xu hướng giảm thì DN kinh doanh xăng dầu đầu mối không nên tăng giá. Cùng quan điểm này, các chuyên gia kinh tế cho rằng nếu DN kinh doanh xăng dầu tăng chi phí kinh doanh và tăng giá bán xăng dầu thì sẽ đẩy kinh tế vĩ mô và lạm phát lún sâu vào những bất lợi và vòng xoáy tăng giá.

Theo PGS - TS Trần Hoàng Ngân - thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, trong bối cảnh lạm phát còn cao, không nên tăng giá xăng dầu lúc này nhằm ngăn chặn từ xa cơn sốt lạm phát tâm lý, ảnh hưởng không tốt đến việc kiểm soát lạm phát.

Một trong những điểm đáng lưu ý nữa là tại bản tin thị trường xăng dầu số 28 do Petrolimex phát hành ngày 9/5 cho biết: Giá bán diesel tại Việt Nam là 21.100 đồng/lít trong khi Cty PTT của Thái Lan bán với giá 29,99 baht/lít tương ứng mức giá 21.135 đồng/lít. Điều đó có nghĩa là giá bán tại Việt Nam là 21.100đ/lít thì chỉ thấp hơn Thái Lan 35 đồng/lít - Đây có thể coi là mức tiệm cận giá khu vực.

Riêng đối với giá xăng, các DN cho rằng giá bán lẻ hiện nay vẫn còn thấp hơn từ hơn 2.000đ - gần 5.000đ/lít so với các nước trong khu vực cũng là cách so sánh chưa phù hợp. Chưa hết theo bản tin giá cơ sở của Petrolimex chốt số liệu ngày 29/3 (thời điểm tăng giá bán lẻ), khi đó giá xăng A92 tại Singapore là hơn 118USD/thùng thì kết cấu giá cơ sở là 21.379đ/lít đã bao gồm các loại thuế, chi phí cùng định mức lợi nhuận 300đ/lít. Như vậy với diễn biến giá cả hiện nay, các chuyên gia cho rằng DN vẫn có lãi chút ít, hoặc chí ít có “ăn” vào định mức lợi nhuận thì cũng không bị lỗ như từng kêu ca.

Một vấn đề mà số đông chuyên gia và người dân phản ứng là việc nếu như trước đây Petrolimex cung cấp “bản tin giá cơ sở” như một “công thức tính giá xăng dầu”, đến nay DN này đột ngột hủy bỏ. Việc không tiếp tục “giúp thuận tiện trong việc tra cứu, cập nhật thông tin và không bị động khi DN đầu mối điều chỉnh giá bán theo Nghị định 84” như mục tiêu ban đầu đã khiến phát sinh mối hoài nghi về sự minh bạch về kết cấu giá xăng dầu. Bên cạnh đó, các chuyên gia cho rằng DN cũng cần minh bạch việc tiết giảm chi phí kinh doanh như yêu cầu của bộ: Công Thương - Tài chính, đồng thời minh bạch việc sử dụng quỹ bình ổn giá.

* Các bạn có ý kiến gì về vấn đề giá xăng trong nước? Mời các bạn tham gia gửi ý kiến phản hồi phía dưới.


Nguồn LAO ĐỘNG

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

4 thói quen để trở thành triệu phú

Các triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày như chúng ta, cũng sống dưới một bầu trời và hít chung một bầu không khí, vậy tại sao họ giàu còn chúng ta thì không?

Các triệu phú lạc quan về nền kinh tế thế nhưng không giống như phần đông chúng ta, họ không tiêu sạch tiền vào thứ vô bổ như trò chơi điện tử hay đồ ăn thức uống vặt vãnh.

Thay vào đó, họ quan tâm đến việc giữ tiền và kiếm thêm tiền.

Một khảo sát được thực hiện với triệu phú Mỹ gần đây cho người ta thấy triệu phú làm gì với tiền của họ trong năm nay.

Ưu tiên quan trọng nhất là họ sẽ trả bớt nợ và tiết kiệm tiền. Một triệu phú trong năm qua trung bình tiết kiệm được 39 nghìn USD và họ có kế hoạch sẽ tiết kiệm nhiều hơn trong năm nay.

Tuy nhiên họ cũng vẫn muốn đặt cược vào đà phục hồi kinh tế. Khoảng 45% cho biết họ sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán. 58% quan tâm đến lĩnh vực công nghệ; 48% quan tâm đến dược và 47% muốn đầu tư vào lĩnh vực y tế.

Sự quan tâm đối với vàng chưa chấm dứt: 41% muốn đầu tư vào vàng và 24% xem xét cơ hội đầu tư vào các kim loại quý khác.

Tuy nhiên các triệu phú chưa hết bi quan; 81% cho rằng họ không tin suy thoái kinh tế đã qua đi và chỉ duy nhất 2% tự coi mình trong nhóm nhà đầu tư táo bạo.

Quy tắc này không chỉ áp dụng với việc chi tiền mà còn trong cuộc sống và cách điều hành công việc kinh doanh.

Quản lý thời gian hiệu quả

Triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày giống chúng ta thế nhưng việc họ sống và điều hành công việc kinh doanh thế nào cũng đáng quan tâm. Họ quản lý thời gian tốt hơn chúng ta. Trong khi phần lớn chúng ta về nhà và ngồi lì trước tivi, người giàu có đọc sách và làm những việc đóng góp cho thành công của họ trong tương lai.

Từ khi còn là một học sinh cấp 2 ở Seattle, Bill Gates thường rời nhà vào buổi đêm và cuối tuần để đến phòng máy tính. Ông làm lập trình từ khi học lớp 8. Ông không dành suốt khoảng thời gian rỗi rãi thời niên thiếu để xem tivi và mơ học môn khoa học máy tính tại trường đại học. Ông dành thời gian làm việc thực tế trên máy tính.

Cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi sau này ông bỏ ngang đại học Harvard để khởi nghiệp với Microsoft, ông đơn giản chỉ luôn đi trước mọi người.

Steve Jobs, sáng lập viên của Apple trong bài phát biểu tại đại học Stanford vào năm 2005, đã cho mọi người biết về lịch hoạt động của ông và khẳng định ông luôn biết làm tất cả những gì cần thiết.

Jobs nói: “Khi tôi 17 tuổi, tôi biết đến câu nói nếu mỗi ngày bạn sống như thể đó là ngày cuối cùng trong cuộc đời, bạn sẽ thành công. Câu nói đó gây ấn tượng mạnh mẽ dến tôi và trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương và tự hỏi: có phải ngày cuối cùng của mình đã đến và mình sẽ làm gì hôm nay? Khi tôi đưa ra quá nhiều câu trả lời không, tôi hiểu tôi cần phải thay đổi điều gì đó.”

“Đừng bao giờ mút ngón tay”

Người giàu cũng hết sức quyết đoán.

Tỷ phú Warren Buffett đã từng khẳng định: “Đừng bao giờ mút ngón tay. Ở thời điểm nào đó, bạn cần phải dừng suy nghĩ tính toán lại và bắt đầu hành động.”

Hãy biết thu thập thông tin cần thiết trước người khác để đưa ra quyết định và nhờ mọi người theo dõi, nhắc nhở việc tuân thủ lịch trình để đảm bảo nó không đi chệch hướng.

Ông luôn đưa ra quyết định nhanh và trung thành với nó.

Theo ông, hành động chờ thời cơ và suy nghĩ linh tinh là “mút ngón tay”. Bất cứ khi nào được mời hợp tác làm ăn, ông đều trả lời: “Tôi không phản đối nếu bạn đưa ra biểu giá cụ thể.”

Hạn chế vay mượn

Người sống bằng tiền vay mượn và thẻ tín dụng sẽ không thể giàu được. Vì vậy, Warren Buffett không bao giờ vay khoản tiền lớn để tiêu dùng hay đầu tư.

Ông rất ghét thế chấp. Ông cho biết đã nhận được không ít lá thư từ nhóm người tưởng họ quản lý được nợ nần nhưng sau đó lại khốn khổ vì nó. Buffett khuyên chỉ nên mượn số tiền mà bạn có thể trả và đầu tư bằng tiền tiết kiệm của chính mình.

Luôn kiên trì

Với sự nhẫn nại và khéo léo, bạn sẽ có thể chiến thắng mọi đối thủ. Warren Buffett mua siêu thị đồ nội thất Nebraska Furniture Mart vào năm 1983 bởi thích phong cách kinh doanh của người chủ Rose Blumkin.

Là một người Mỹ gốc Nga, bà đã biến một cửa hiệu cầm đồ nhỏ thành cửa hàng trang trí đồ nội thất lớn nhất Bắc Mỹ.

Bà luôn bán hàng thấp hơn giá của các cửa hàng khác và mặc cả đến cùng giá mua vào.

Bà được coi như hiện thân của lòng can đảm và cố gắng đến cùng để chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt.

Chiến lược công ty trong thời kỳ lạm phát

Với khả năng lạm phát sẽ tăng trong thời gian tới, ngay từ bây giờ các công ty cần có sự chuẩn bị cần thiết để ứng phó hiệu quả.

LTS: BCG Perspective là một tạp chí về chiến lược kinh doanh thuộc BCG, một trong ba công ty tư vấn quản trị hàng đầu thế giới (cùng với McKinsey và Bain & Company). Ngay từ những ngày đầu thành lập vào năm 1963, BCG Perspective đã liên tục đưa ra những báo cáo, nghiên cứu về chiến lược kinh doanh phù hợp với những biến động thị trường. Diễn đàn kinh tế Việt Nam xin trân trọng giới thiệu một trong những báo cáo gần đây về chiến lược doanh nghiệp trong thời kỳ lạm phát.

Khái quát

Lạm phát đối với các hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng nhiều khi khó nhận thấy nhưng vô cùng nguy hiểm. Lạm phát giảm lợi nhuân thu được trên thực tế trong khi các nhà quản lý cứ ngỡ rằng công ty mình đang phát triển. Lạm phát cũng khiến mức đầu tư giảm và ảnh hưởng đến phân bổ tài nguyên. Giá trị thị trường suy giảm, cổ phần hầu như không sinh lãi trong thời kì lạm phát.

Đồng thời, cũng giống như bất kì mối đe dọa kinh tế nào khác, lạm phát chính là "lửa thử vàng" dành cho các doanh nghiệp. Những công ty muốn vượt qua các ảnh hưởng tiêu cực của lạm pháp có thể lợi dụng giai đoạn này để đánh bại các đối thủ yếu hơn và nâng lợi thế cạnh tranh của mình.

Bài viết này mô tả quá trình chuẩn bị gồm 2 bước. Bước thứ nhất là xác định, đánh giá các tác động của lạm phát đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của công ty, cũng như xem xét khả năng ứng phó hiệu quả đối với các tác động đó. Bước đầu tiên này chính là việc dự đoán ảnh hưởng của lạm phát. Bước thứ 2 là sử dụng kết quả phân tích tác động trên để xây dựng một kế hoạch tổng thể tập trung vào khả năng tác động của lạm phát, và có thể giúp công ty tránh các hậu quả tiêu cực.

Quá trình chuẩn bị hoàn thành càng sớm thì công ty càng có khả năng hạn chế ảnh hưởng của lạm phát đến các hoạt động kinh doanh của mình. Và càng đợi lâu thì việc đối phó hiệu quả với lạm phát càng khó khăn hơn.

Xác định ảnh hưởng lạm phát đến lợi nhuận

Mức độ ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận của công ty lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hai yếu tố. Một là khả năng hạn chế sự tăng giá từ phía nhà cung cấp. Hai là khả năng định giá sản phẩm cao hơn mà khách hàng vẫn chấp nhận. Nên nhớ rằng mục tiêu ở đây không phải là bảo vệ công hoàn toàn với lạm phát, và điều này rõ ràng là không thể thực hiện được. Thay vào đó, công ty cần chắc chắn rằng chi phí đầu vào tăng chậm hơn mức tăng của giá bán ra.

Xác định ảnh hưởng của lạm phát liên quan đến việc đánh giá tác động có thể có của lạm phát đối với lãi/lỗ của công ty. Lạm phát tác động đến các loại chi phí khác nhau của công ty ở mức độ nào? Và công ty có thể tăng giá sản phẩm lên bao nhiêu trong thời kì lạm phát? Để trả lời những câu hỏi trên, có 4 yếu tố cần phải xem xét. Đó là: các điều khoản trong hợp đồng của công ty, mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng, mức độ ảnh hưởng của lạm phát đối với nhà cung cấp và khách hàng, và cuối cùng là mức độ cạnh tranh.

Với khả năng lạm phát sẽ tăng trong thời gian tới, ngay từ bây giờ các công ty cần có sự chuẩn bị cần thiết để ứng phó hiệu quả.

Điều khoản hợp đồng

Hầu hết các hoạt động trao đổi kinh tế thường được thực hiện, quản lý thông qua một số dạng hợp đồng (rõ ràng hoặc ngầm hiểu). Chi phí đầu vào thường được quản lý bởi các thỏa thuận ngầm trong bán lẻ, các hợp đồng được chuẩn hóa trên thị trường chứng khoán hay các hợp đồng theo yêu cầu của nhà cung cấp. Giá bán ra thì do các định ước với khách hàng quyết định. Một số hợp đồng có thể không chính thức nhưng vẫn có một số quy định như giấy bảo hành, hay các giao kèo dịch vụ. Để đánh giá tác động có thể có của lạm phát đối với chi phí, giá cả, hay chính là lợi nhuận của công ty, các điều khoản trong hợp đồng cần phải minh bạch, rõ ràng.

Thời hạn hợp đồng là một yếu tố quan trọng, cần xem xét kĩ lưỡng. Ví dụ, về phía người cung cấp, hợp đồng dài hạn chính là một biện pháp bảo vệ trong khi quá nhiều hợp đồng ngắn hạn ở các thị trường giao ngay (trực tiếp) lại làm tăng rủi ro lạm phát. Tương tự, các hợp đồng với giá cố định sẽ giúp tránh các tác động tiêu cực của lạm phát tốt hơn so với hợp đồng với giá có thể điều chỉnh.

Các công ty cũng nên chú ý đến ảnh hưởng tiềm ẩn của các điều khoản có thể thương lượng lại trong hợp đồng. Nhiều hợp đồng dài hạn giá cố định có một số điều khoản quy định mức giá có thể thay đổi khi mức lạm phát vượt quá tỷ lệ nào đó. Ngoài các điều khoản hợp đồng chính thức, các nghiệp vụ bảo hiểm tài chính cũng cần được quan tâm, đánh giá tác động, đặc biệt đối với nguyên liệu thô hầu như được mua bán trên các thị trường dễ biến động. Nghiệp vụ bảo hiểm tài chính có thể giảm hoặc tăng mức độ ảnh hưởng của lạm phát chi phí.

Khi xem xét hợp đồng liên quan đến chi phí đầu vào, các công ty không nên giới hạn phân tích ở chi phí nguyên liệu. Nhiều loại chi phí khác như chi phí nhân công, cũng đóng vai trò quan trọng. Cần phải hiểu rằng tỷ lệ chi phí nhân công tùy thuộc vào các hợp đồng đàm phán tập thể, thời hạn các giao kèo này và mức lương tăng được quy định cụ thể. Đối với các hợp đồng không kết hợp, thời gian trung bình của hợp đồng và mức giá tăng trong thị trường lao động có thể ước tính được.

Dạng hợp đồng cũng có ảnh hưởng lớn đến khả năng của công ty trong việc chuyển phần tăng trong chi phí đầu sang phía khách hàng bằng cách tăng giá sản phẩm, dịch vụ. Hay nói đơn giản, đối với các công ty, các điều khoản hợp đồng càng tạo lợi thế về phía người cung cấp thì càng bất lợi về phía khách hàng. Ví dụ, các giao kèo ngắn hạn với khách hàng thì sẽ giúp ích nhiều cho công ty hơn là các hợp đồng dài hạn, bởi giá cả có thể tăng giảm linh hoạt hơn. Tương tự, các hợp đồng cho phép điều chỉnh giá theo giá cả nguyên liệu thô cũng sẽ giúp hạn chế các tác động tiêu cực của lạm phát.

Mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng

Đương nhiên việc nhận định các điểm yếu trong các hợp đồng hiện có là rất cần thiết, tuy nhiên thay đổi chúng lại là một việc hoàn toàn khác. Việc một công ty có thể áp đặt các điều khoản có lợi mà cả nhà cung cấp và khách hàng chấp nhận hay không phụ thuộc vào sự cân bằng quyền lực trong ngành đó.

Tần số điều chỉnh giá của các nhà cung cấp sẽ khác nhau đối với các ngành kinh doanh khác nhau. Ví dụ, người bán sỉ thực phẩm điều chỉnh giá thường xuyên hơn so với những người cung cấp trong các lĩnh vực khác. Do vậy khách hàng mua thực phẩm thường dễ bị ảnh hưởng bởi lạm phát.

Công ty có tránh được sự tăng giá từ phía nhà cung cấp hay không phụ thuộc vào việc công ty có được vị thế thuận lợi hay bất lợi khi thương lượng. Điều này lại được quyết định bởi tầm quan trọng của công ty đối với nhà cung cấp cũng như năng lực thuyết phục của công ty. Rõ ràng nếu công ty là khách hàng duy nhất của nhà cung cấp hoặc công ty có trong tay nhiều nhà cung cấp tiềm năng khác thì công ty sẽ dễ dàng hạn chế hoặc trì hoãn việc nhà cung cấp tăng giá trong giai đoạn lạm phát.

Vị thế thương lượng của công ty với khách hàng quyết định khả năng áp giá của công ty lên sản phẩm, hay nói cách khác, khả năng chuyển chi phí do lạm phát gây ra sang phía khách hàng và điều này thì phụ thuộc phần lớn vào độ co giãn của cầu theo giá.

Một công ty có thể xác định độ co giãn của cầu theo giá theo 2 cách: ước lượng hoặc phân tích số liệu. Trong một số trường hợp, cần phải phân tích độ co giãn trung bình của giá sản phẩm hoặc giá thị trường theo các đặc điểm cụ thể của khách hàng như độ tuổi, địa vị xã hội, mức độ tham gia của khách hàng trong các chương trình thể hiện lòng trung thành đối với sản phẩm của công ty. Những yếu tố này có thể có ảnh hưởng nhiều đến quyết định của khách hàng khi giá cả biến động.

Ảnh hưởng của lạm phát đến khách hàng và nhà cung cấp

Ngoài việc xem xét những tác động tiềm ẩn của lạm phát đến chi phí đầu vào và giá cả sản phẩm, công ty cũng cần phải nắm rõ những ảnh hưởng của lạm phát đến nhà cung cấp và khách hàng. Công ty càng biết nhiều về cơ cấu chi phí của nhà cung cấp và lạm phát ảnh hưởng tới những cơ cấu này như thế nào thì công ty càng có khả năng dự đoán cách thức mà các nhà cung cấp đối phó với lạm phát để có thể sẵn sàng ứng phó lại.

Tương tự đối với khách hàng, những hiểu biết của công ty về chính khách hàng của mình sẽ quyết định khả năng thành công của kế hoạch tăng giá sản phẩm trong thời kì lạm phát. Rõ ràng, công ty sẽ dễ dàng thương lượng tăng giá với những khách hàng theo đuổi chất lượng, đánh giá cao sự đổi mới và độ tin cậy của sản phẩm hơn đối tượng chú trọng đến giá cả.

Mức độ cạnh tranh

Hầu hết các công ty đều phải cạnh tranh trong những phân khúc thị trường và sản phẩm đa dạng, mà mỗi phân khúc có những tính chất, mức độ cạnh tranh riêng biệt. Mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến các tác động do quyết định liên quan đến giá cả sản phẩm của công ty gây ra, cho nên mức độ cạnh tranh cũng là một yếu tố cần phải đánh giá. Ví dụ khi thị trường có khá nhiều nhà cung cấp phục vụ cho một số lượng nhỏ khách hàng thì công ty sẽ rất khó tăng giá. Ngược lại, khi thị trường có rất ít nhà cung cấp nhưng lại phục vụ số lượng khách hàng lớn thì công ty có thể điều chỉnh giá dễ dàng hơn. Đương nhiên trong trường hợp này các đối thủ cạnh tranh cũng tăng giá và không có cuộc chiến giá cả nào xảy ra.

Chi phí "bôi trơn" là vấn đề nghiêm trọng

Tại hội thảo công bố chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2010 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID) và Dự án Sáng kiến năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) tổ chức vào sáng 16/3 tại Hà Nội, các đại biểu tham dự đều có chung một nhận định là hiện nay, khi đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam, các doanh nghiệp (DN) đều phải tốn những khoản chi phí không chính thức (còn gọi là chi phí “bôi trơn”) nếu muốn các thủ tục được giải quyết nhanh gọn, hay muốn trúng các gói thầu do cơ quan nhà nước mời thầu.

Việt Nam cần phải giữ gìn hình ảnh để thu hút FDI
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Môi trường kinh doanh của VCCI: “Có 21% DN trong nước thừa nhận đã trả chi phí không chính thức trong đăng ký kinh doanh và 40% trả hoa hồng khi muốn có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước. Về phần các DN FDI, có 18% thừa nhận có chi khoản phí “bôi trơn” để xúc tiến các thủ tục”.

Tương tự, TS. Edmund Malesky, Trưởng nhóm nghiên cứu PCI, đại diện USAID, cũng đưa ra những con số đáng kinh ngạc: 20% DN FDI đã phải trả khoản phí này khi đăng ký kinh doanh, 40% DN phải chi hoa hồng khi đấu thầu, mua sắm công, 70% DN FDI phải tốn kém cho khoản bôi trơn để thông quan hàng hóa nhanh hơn. Và ông nhận xét: “Chi phí không chính thức là vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam”.

Thực tế cho thấy, số DN chấp nhận “bôi trơn” đang có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây. Thực ra, chuyện này không còn xa lạ với nhiều người, nhưng điều đáng nói là có không ít DN xem đây là sự hiển nhiên.

Chi phí “bôi trơn” chủ yếu xoay quanh những mối “quan hệ” đôi bên cùng có lợi, và bản chất của mối quan hệ này được luật sư Trương Trọng Nghĩa, đại biểu Hội đồng nhân dân TP.HCM, chỉ rõ là “một dạng tham nhũng giữa một bên là DN có nhu cầu xin xỏ và đưa lợi ích, còn bên kia là cán bộ, công chức có quyền giải quyết và nhận lợi ích”.

Đây quả là vấn đề không đơn giản, nếu không giải quyết rốt ráo sẽ dẫn đến những hệ lụy cho nền kinh tế Việt Nam, nhất là trong khi chúng ta đang muốn thu hút vốn đầu tư từ các DN nước ngoài.

Trước đây, các DN nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu dựa trên giá nhân công rẻ và các ưu đãi về thuế, đất đai. Đồng thời, đa phần các DN này đầu tư vào các lĩnh vực gia công, lắp ráp có hàm lượng công nghệ thấp, cần ít hoặc không cần lao động có tay nghề cao.

Tuy nhiên, xu hướng này cần được thay đổi. Điều này có nghĩa là trong tương lai, các lợi thế về nhân công giá rẻ hay các ưu đãi khác sẽ không còn sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài, mà cái chính là sự minh bạch trong chính sách, lao động có tay nghề cao và môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi.

Điều này đã được bà Virginia Foote, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa Kỳ (Amcham), xác nhận: “Nhiều DN Mỹ muốn vào Việt Nam, vì danh tiếng của Việt Nam đã được củng cố khi trở thành thành viên của WTO. Nhưng sau lần đầu tiên đến Việt Nam, khi quay trở lại lần thứ hai, thứ ba, họ lại quyết định không đầu tư vào Việt Nam nữa”.

Giải thích điều này, bà Virginia Foote cho rằng, các DN làm ăn thành công tại Việt Nam đa phần có quan hệ quen biết với những người có vị trí quan trọng trong các cơ quan nhà nước. Các nhà đầu tư Mỹ không thể hiểu được sự rối rắm của mối quan hệ kinh doanh như thế.

Nhận xét của bà Virginia Foote rất có thể cũng là suy nghĩ chung của các nhà đầu tư nước ngoài đang cân nhắc việc đầu tư tại Việt Nam. Điều này không những đã gây rất nhiều trở ngại cho công tác đầu tư, kinh doanh của các DN, mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh không bình đẳng và làm ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam.

Theo DNSG

Thứ Năm, 24 tháng 2, 2011

Triển khai gấp 7 nhóm giải pháp chống lạm phát

(VEF.VN) - Hài hòa giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, thặt chặt chi tiêu, kiểm soát chặt về giá đồng thời quan tâm hỗ trợ người nghèo... là những biện pháp cấp bách Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương để kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô.

Sáng nay (24/2), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc nhằm triển khai Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Thắt chặt tiền tệ và chi tiêu

Tại hội nghị, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã giới thiệu Nghị quyết, tập trung vào 7 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu trên.

Giải pháp mà Chính phủ đưa ra gồm: thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để các nội dung trên một cách đồng bộ, thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Đối với nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ và tài khóa, ông Hùng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp hài hòa giữa hai nhóm chính sách này. Theo đó, nhất định phải kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán vào khoảng 15-16%. Vốn tín dụng sẽ được ưu tiên phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh; nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghịêp nhỏ và vừa. Giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản và chứng khoán.

Phó Thủ tướng khẳng định, tỷ giá và thị trường ngoại hối phải được điều hành linh hoạt.

"Sự thật là cân đối ngoại tệ ra - vào của ta vẫn có số dư, hoàn toàn có thể bảo đảm thanh khoản, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối. Nhưng tới đây, vấn đề quan trọng là phải củng cố được lòng tin của người dân vào đồng nội tệ", Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Liên quan đến chính sách tài khóa, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan địa phương phấn đấu tăng thu ngân sách 7-8% so với dự toán năm 2011 đã được Quốc hội thông qua; sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm tiền lương và các khoản có tính chất lương; chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đã đề ra từ đầu năm).

Ảnh: Việt Thanh

Song song với kiểm soát chính sách tiền tệ là việc tiết kiệm chi tiêu, trong đó giảm chi tiêu của các đơn vị thụ hưởng ngân sách và các doanh nghiệp nhà nước.

"Sẽ tạm dừng trang bị mới xe ôtô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, không bố trí kinh phí cho những việc chưa thật sự cấp bách... Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán trừ các trường hợp hết sức đặc biệt đã được quy định rõ và tiến tới chấm dứt việc tạm ứng vốn ngân sách cho các địa phương", Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết.

Đáng lưu ý, Chính phủ sẽ điều hành để giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP (mục tiêu đã được Quốc hội thông qua là dưới 5,3%); giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn...

Điện, xăng tăng vừa phải để tránh gây sốc

Tại Hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã công bố các Quyết định số 268QĐ-TTG và 269/QĐ-TTg ngày 23-2-2011 của Thủ tướng Chính phủ về giá điện.

Giải thích thêm về các quyết định này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói: "Theo tính toán đầy đủ tại thời điểm này, nếu muốn cắt lỗ, giá bán điện sẽ phải tăng tới 668 đồng/kWh, tức là tăng thêm 62% so với hiện nay. Tuy nhiên, để không gây "sốc" cho nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, giá điện chỉ tăng chưa tới 1/3 mức đó mà thôi. Để giữ giá như thế, Nhà nước phải chấp nhận lùi chi phí khấu hao, lùi giá bán than cho ngành điện, tạm thời không thu phí bảo vệ môi trường và khoanh lỗ cũ để xử lý dần. Ngành điện cũng phải chấp nhận không có lãi".

"Nếu không tăng giá, năm 2011 ngành điện sẽ lỗ tiếp 29,5 ngàn tỷ đồng sau khi đã bị lỗ tổng cộng 28 ngàn tỷ đồng trong năm 2010. Nền kinh tế sẽ không thể chịu đựng nổi số lỗ lớn như vậy. Ngoài ra, giá điện thấp khiến khó thu hút đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu điện, các ngành nghề tiếp tục sử dụng công nghệ lạc hậu, sử dụng điện lãng phí, không khuyến khích tiết kiệm điện", ông Vũ Văn Ninh cho hay.

Ảnh: chinhphu.vn

Các hộ thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được hỗ trợ giá điện cho 50 kWh/tháng, mức hỗ trợ là 30.000 đồng/hộ/tháng. Kinh phí hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo lấy từ tiền bán điện.

Khung giá cho điện sinh hoạt tại những khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo chưa nối lưới điện quốc gia gồm giá trần và giá sàn, trong đó giá sàn bằng 1,5 lần giá bán điện bình quân năm, giá trần bằng 2,5 lần giá bán điện bình quân năm.

Tương tự, đối với xăng dầu, Bộ Tài chính đã quyết định cho phép các doanh nghiệp đầu mối được tăng giá xăng 2.900 đồng/lít, lên mức 19.300 đồng/lít kể từ 10 giờ sáng nay (24/2).

Theo Bộ trưởng Ninh, mức tăng kể trên cũng chưa thể cắt lỗ cho các doanh nghiệp, khi mà giá xăng dầu trên thị trường thế giới đang đà tăng mạnh. Riêng trong năm 2010, tổng lỗ do không điều chỉnh giá xăng dầu theo thị trường thế giới đã lên đến khoảng 16,4 ngàn tỷ đồng.

Cần kiểm soát thật chặt về giá

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của cả nước là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được sản xuất, được an sinh xã hội.

Giải pháp được người đứng đầu Chính phủ lưu ý:

Một là, phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; phải kiểm soát được tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20%, đồng thời dành tín dụng ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ và đầu tư cho các lĩnh vực thiết yếu khác trên nguyên tắc điều hành minh bạch, cụ thể. Cùng với việc kiềm chế lạm phát, phải giảm dần lãi suất theo hướng hợp lý, coi lãi suất là một trong những công cụ kiềm chế lạm phát.

Hai là, điều hành tỷ giá ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, Chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước sẽ huy động và sử dụng các nguồn lực để kiểm soát bằng được tỷ giá theo quy định, không để thả nổi tỷ giá; không để cho thị trường chợ đen chi phối.

"Chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này và trên thực tế năm 2008 là năm cực kỳ khó khăn song chúng ta đã làm được việc này. Dứt khoát các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước phải bán tất cả các ngoại tệ có được cho ngân hàng nhà nước, không găm ngoại tệ gây khó khăn cho đất nước; khi có nhu cầu, các ngân hàng phải đảm bảo bán cho doanh nghiệp theo đúng giá quy định", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lưu ý.

Bên cạnh đó, không ứng vốn ngân sách nhà nước cho các dự án kéo dài, không cấp bách để bổ sung cho các dự án ưu tiên hoàn thành trong năm 2011.

Ba là, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, với mức giá nông sản tăng cao, đây là thời điểm tốt để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Hạn chế tối đa các mặt hàng nhập khẩu trong nước có thể sản xuất được, coi giảm nhập siêu cũng làm một trong những giải pháp giảm căng thẳng tỷ giá.

Khẳng định việc điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu là việc không thể không làm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các Bộ, ngành chức năng thực hiện việc bù hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo theo đúng đối tượng, công khai, minh bạch.

Người đứng đầu Chính phủ cũng đề nghị, các địa phương cần làm tốt công tác kiểm soát giá, không để đầu cơ đẩy giá lên cao nhất là với một số mặt hàng thiết yếu như gạo, lương thực, xăng dầu, sữa... Đi đôi với đó là việc chỉ đạo các cơ quan chức năng của đại phương thực hiện tốt chính công tác quản lý ngoại hối, thị trường vàng.

Cần thay đổi tư duy về chiến lược

Chưa bao giờ hai từ “chiến lược” được các doanh nghiệp Việt Nam nhắc đến nhiều như thời gian gần đây. Nào là “chiến lược phát triển”, “chiến lược kinh doanh”, “chiến lược marketing”, “chiến lược nhân sự”...

Và tất cả những chiến lược này, tựu trung đều phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, trên thực tế, để có thể nhận thức đúng về chiến lược, cần có sự thay đổi về tư duy, mà trước hết là tư duy của người đứng đầu doanh nghiệp.

Chiến lược quyết định mô hình và cơ cấu tổ chức

Sự khác nhau cơ bản trong chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp Việt Nam nằm ở bốn khía cạnh chính: nhận thức về khái niệm chiến lược, cách thức lập chiến lược, cách thức triển khai chiến lược, cách thức kiểm soát và đánh giá chiến lược.

Bất kỳ mô hình hay cơ cấu tổ chức nào ra đời cũng nhằm phục vụ một chiến lược nào đó. Chiến lược là tiền đề, là thứ không thể thiếu đối với mô hình hoạt động và cấu trúc của tổ chức. Chiến lược công ty quyết định mô hình và cơ cấu tổ chức của công ty (thường là công ty đa ngành), chiến lược kinh doanh quyết định mô hình và cơ cấu của một đơn vị kinh doanh (hay công ty kinh doanh đơn ngành).

Các tập đoàn, công ty đa quốc gia không bao giờ thiết kế một mô hình hay cấu trúc ổn định khi chưa lập được chiến lược công ty, chiến lược kinh doanh cụ thể.

Trong khi đó, không ít doanh nghiệp Việt Nam lại tư duy theo hướng ngược lại. Họ mày mò, xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức, và liên tục thay đổi tổ chức, nhân sự trong khi chưa hề định hình một chiến lược rõ ràng nào.

Thậm chí, có doanh nghiệp còn xem chiến lược là sản phẩm của mô hình và cơ cấu tổ chức, chiến lược được sinh ra để phục vụ cho mô hình và cơ cấu hiện hữu.

Từ nhận thức này, doanh nghiệp cứ loay hoay vẽ tới vẽ lui sơ đồ tổ chức, tách - nhập - giải thể, thêm - bớt phòng ban, thay đổi nhân sự... Và, sự bất ổn tổ chức kéo theo hàng loạt bất ổn khác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Cần phân biệt hai khái niệm chiến lược (strategy) và chiến thuật (tactic). Cùng là sự lựa chọn cách thức, con đường (way) kinh doanh, nhưng chiến lược hướng đến những mục tiêu dài hạn (long - term objective) trong năm, mười năm; trong khi chiến thuật chỉ là những giải pháp ngắn hạn (short - term objective) thực hiện trong vài tháng đến một năm.

Chiến lược thường mang tính chủ động (proactive) - vạch ra một con đường đi chính, xuyên suốt; trong khi chiến thuật thường mang tính đối phó (reactive), ứng biến với những tình huống trên đường đi trong khi vẫn giữ nguyên hướng đi và luôn bám vào trục đường đã định.

Chiến lược thường đòi hỏi việc sử dụng nguồn lực lớn và dài hơi, trong khi chiến thuật chỉ cần sử dụng nguồn lực nhỏ trong một giai đoạn ngắn. Chiến lược, nếu thành công, sẽ mang lại kết quả lớn, còn nếu thất bại thì hậu quả cũng khôn lường; trong khi đó, chiến thuật thường mang lại kết quả nhỏ, hậu quả nhỏ...

Từ nhận thức về khái niệm dẫn đến nhận thức về vai trò. Các công ty nước ngoài xem chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt, là mối quan tâm hàng đầu, định hướng cho mọi hoạt động kinh doanh.

Tương tự khi người đang đứng giữa rừng, cần phải xác định hướng đi cho đúng trước khi bắt đầu đi, nếu không, sẽ không thể thoát ra khỏi rừng, thậm chí còn có thể bị lạc sâu hơn.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam không mấy coi trọng chiến lược, thường tiện đâu làm đấy, thấy có lời thì kinh doanh, thấy sản phẩm nào bán được thì sản xuất...

Điều này cũng giống như người bị lạc mà không quan tâm đến việc xác định hướng đi, cứ thấy chỗ nào có đường là đi, vì vậy có khi đi loanh quanh mãi lại quay về chỗ cũ hoặc ngày càng đi lạc sâu hơn.

Từ mức độ coi trọng khác nhau dẫn đến cách thức làm chiến lược giữa công ty nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam cũng khác nhau. Công ty nước ngoài xem chiến lược là sản phẩm của cả đội ngũ quản trị viên cấp cao, vì vậy họ thường huy động trí tuệ tập thể và dành nhiều thời gian, công sức cho việc hoạch định chiến lược.

Một dự án hoạch định chiến lược có thể kéo dài trong vài tuần, thậm chí vài tháng, với sự tham gia của nhiều người, từ những nhân viên cấp thấp đi thu thập và cung cấp thông tin, đến các quản lý cấp trung phân tích dữ liệu, và quản trị viên cấp cao thảo luận, tranh biện các kết quả phân tích để lựa chọn chiến lược.

Những cuộc họp bàn về chiến lược có thể được tổ chức ở nước ngoài hoặc ở một khách sạn, resort nào đó, nơi tách biệt với công việc thường ngày. Và lẽ đương nhiên, không thể bỏ qua việc sử dụng những công cụ phân tích chiến lược chuyên nghiệp, bài bản. Trong khi đó, chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam thường do một mình người chủ doanh nghiệp nghĩ ra.

Không huy động trí tuệ tập thể, không thu thập đầy đủ thông tin, không sử dụng các công cụ phân tích, người chủ doanh nghiệp ra các quyết định chiến lược chỉ dựa vào cảm nhận của riêng mình.

Đó là lý do doanh nghiệp Việt Nam thường thành công và phát triển rất nhanh lúc còn ở quy mô nhỏ, nhưng giậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi khi mở rộng quy mô hoạt động.

Ở quy mô nhỏ, hoạt động kinh doanh đơn giản, lượng thông tin ít, mức độ cạnh tranh chưa cao, người chủ doanh nghiệp, với tố chất và kinh nghiệm, có thể bất chợt đưa ra những quyết định đúng đắn.

Nhưng khi quy mô doanh nghiệp ở tầm cỡ lớn hơn, lượng thông tin nhiều, môi trường kinh doanh phức tạp, thiếu các công cụ phân tích, thiếu sự bàn bạc thấu đáo... thì một người khó có thể tính toán hết mọi tình huống để đưa ra quyết định đúng.

Những quyết định chiến lược được đưa ra vội vàng, thiếu phân tích, thiếu sự thảo luận, đóng góp của đội ngũ quản trị viên cấp cao, nếu không mắc sai lầm thì cũng rất khó triển khai thực hiện.

Hướng đi quan trọng hơn tốc độ

Các công ty nước ngoài triển khai chiến lược bằng những kế hoạch tổng thể và chương trình hành động cụ thể.

Các kế hoạch, chương trình này, một mặt xác định các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, mặt khác còn thể hiện đầy đủ những hạng mục công việc phải làm, tiêu chí đánh giá, người chịu trách nhiệm chính, người hỗ trợ, ngân sách, các nguồn lực cần thiết khác, và các mốc thời gian bắt đầu, kết thúc.

Các kế hoạch và chương trình này được thảo luận, bàn bạc kỹ trước khi thống nhất để đưa vào thực hiện. Nhờ đó, việc chuẩn bị về nhân lực và vật lực được tính toán kỹ, việc phối hợp triển khai được nhịp nhàng.

Trong khi đó, chiến lược của doanh nghiệp Việt nhiều khi được triển khai chỉ bằng một mệnh lệnh từ chủ doanh nghiệp; các phòng ban, công đoạn không nắm được công việc và tiến độ thực hiện của nhau nên mạnh ai nấy làm, thậm chí những người triển khai công việc không biết ai là người chịu trách nhiệm chính...

Với cách này, chiến lược sẽ khó trở thành hiện thực. Từ các mục tiêu được thiết lập cụ thể cho từng giai đoạn, cộng với các kế hoạch, chương trình hành động chi tiết, các công ty nước ngoài có thể theo dõi, đánh giá và kiểm soát việc thực hiện chiến lược dễ dàng.

Những buổi họp định kỳ để đánh giá kết quả thực hiện cũng như giải quyết các vướng mắc, khó khăn thường xuyên được tổ chức. Tại các cuộc họp đó, các thành viên tham gia sẽ đưa ra thảo luận, tranh biện, đánh giá tiến độ, chất lượng hoàn thành các hạng mục công việc và cùng quyết định các giải pháp tháo gỡ khó khăn, nếu có.

Nhờ vậy, việc thực hiện chiến lược được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo đi đúng định hướng và kế hoạch vạch ra từ đầu.

Nhận thức về chiến lược và tầm quan trọng của nó chưa đúng là thực trạng khá phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Sự thành công và phát triển quá nhanh của một số doanh nghiệp cũng làm cho người chủ doanh nghiệp trở nên chủ quan.

Tuy vậy, khi bước vào cuộc chơi lớn hơn, có nhiều đối thủ hơn, cách thức tư duy đơn giản sẽ khó phát huy tác dụng, nếu không muốn nói là sẽ rất nguy hiểm.

Một nước cờ sai có thể dẫn đến thua cả ván cờ. Một chiến lược sai có thể đưa một doanh nghiệp đang mạnh rơi vào hoàn cảnh khó khăn, thậm chí đứng trên bờ vực phá sản. Ai cũng hiểu, đi đúng hướng quan trọng hơn là đi nhanh.

Tiếc thay, vẫn chưa nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏa đáng đến vấn đề chiến lược phát triển công ty, nên mục tiêu phát triển bền vững vẫn là cái đích ở xa...


TS NGUYỄN HỮU LONG